The Origin of Vietnamese | The History of the Vietnamese Language

By Bảo Ngọc

Ngọc challenges the common belief that Vietnamese comes from Chinese. She outlines its Austroasiatic roots, the late development of tones, and how Hán vocabulary coexists with everyday words.

Part of The History of the Language

Transcript

Có một câu hỏi mà mình rất thích đặt cho những người đang học tiếng Việt. Đó là: Theo bạn, tiếng Việt có nguồn gốc từ đâu? Nhiều người trả lời rằng tiếng Việt chắc hẳn bắt nguồn từ tiếng Trung Quốc. Điều này cũng dễ hiểu thôi. Việt Nam từng chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa trong nhiều thế kỷ, người Việt từng sử dụng chữ Hán, và ngày nay trong tiếng Việt vẫn có rất nhiều từ gốc Hán như văn hóa, kinh tế, giáo dục, lịch sử hay quốc gia. Tiếng Việt bắt đầu tiếp nhận hàng nghìn từ gốc Hán. Ngày nay, nếu để ý, bạn sẽ thấy rất nhiều từ trang trọng trong tiếng Việt đều có nguồn gốc Hán Việt. Ví dụ như độc lập, tự do, hòa bình, văn hóa, lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, quốc gia hay dân tộc. Trong khi đó, những từ dùng hằng ngày như ăn, uống, ngủ, cha, mẹ, ông, bà, nhà, cây, núi, sông, mưa, gió lại chủ yếu là từ thuần Việt. Sự tồn tại song song của hai lớp từ này tạo nên một nét rất đặc biệt trong tiếng Việt hiện đại. Ví dụ, chúng ta có thể nói bắt đầu hoặc khởi đầu, giúp hoặc hỗ trợ, hỏi hoặc truy vấn, nghĩ hoặc suy ngẫm. Hai từ có nghĩa gần giống nhau nhưng sắc thái và hoàn cảnh sử dụng lại khác nhau. dục, lịch sử hay quốc gia. Ngoài ra cả tiếng Việt và tiếng Trung đều là ngôn ngữ có thanh điệu. Chỉ cần thay đổi dấu, thanh điệu thì nghĩa của từ cũng thay đổi hoàn toàn. Tuy nhiên sự thật lại thú vị hơn nhiều. Xin chào các bạn. Chào mừng các bạn đã quay trở lại với kênh học tiếng Việt Langiri. Mình là Bảo Ngọc, giáo viên tiếng Việt tại Langiri. Hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu tập 1 trong series lịch sử các ngôn ngữ trên thế giới. Bắt đầu bằng tiếng Việt. Tiếng Việt không phải là một nhánh của tiếng Trung Quốc. Hai ngôn ngữ này chỉ ảnh hưởng lẫn nhau trong lịch sử chứ không có mối quan hệ mẹ con. Theo kết luận của phần lớn các nhà ngôn ngữ học hiện đại chấp nhận, tiếng Việt thuộc ngữ hệ Nam Á, một trong những ngữ hệ lâu đời nhất ở Đông Nam Á. Điều đó có nghĩa là họ hàng gần gũi nhất của tiếng Việt không phải là tiếng Trung mà là tiếng Mường ở Việt Nam, tiếng Khmer ở Campuchia và một số ngôn ngữ khác ở khu vực. Nói cách khác, từ hàng nghìn năm trước khi có các triều đại phong kiến phương Bắc hay sự xuất hiện của chữ Hán, tổ tiên của người Việt đã có tiếng nói riêng của mình. Đó cũng là điều khiến tiếng Việt trở thành một ngôn ngữ rất đặc biệt trong suốt lịch sử. Nó tiếp nhận vô số ảnh hưởng từ bên ngoài nhưng chưa bao giờ đánh mất bản sắc của mình. Nếu chúng ta có thể quay ngược thời gian khoảng 2000 năm và đứng giữa một ngôi làng của người Việt cổ, rất có thể chúng ta sẽ không hiểu họ nói gì. Không phải vì đó là ngôn ngữ hoàn toàn khác mà vì tiếng Việt khi ấy có cách phát âm rất khác hiện nay. Một trong những khác biệt lớn nhất là tiếng Việt cổ chưa có hệ thống sáu thanh điệu như bây giờ. Ngày nay khi học tiếng Việt hầu như ai cũng phải làm quen với sáu thanh: ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã và nặng. Chỉ cần thay đổi dấu một từ có thể mang ý nghĩa hoàn toàn khác. Ví dụ từ ma có thể trở thành má, mà, mã, mạ. Đối với người nước ngoài, đây là một Có thể hình dung chữ Nôm giống như việc dùng những viên gạch của chữ Hán để xây nên một ngôi nhà hoàn toàn mới. Nhờ chữ Nôm, nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng của Việt Nam được sáng tác bằng chính tiếng nói của người Việt, thay vì chỉ sử dụng văn ngôn Hán. Tác phẩm nổi tiếng nhất có lẽ là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Ngoài ra còn có thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trãi và rất nhiều tác phẩm khác, góp phần tạo nên nền văn học dân tộc phong phú. Tuy nhiên, chữ Nôm khá phức tạp. Muốn đọc và viết thành thạo, người học thường phải biết cả chữ Hán. Điều này khiến việc phổ cập chữ viết đến toàn dân gặp rất nhiều khó khăn. Chính vì thế, khi chữ Quốc ngữ xuất hiện vào thế kỷ XVII và dần được phổ biến từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, nó đã tạo nên một bước ngoặt lớn trong lịch sử tiếng Việt. Nhưng điều thú vị là những thanh điệu này không phải lúc nào cũng tồn tại. Theo giả thuyết của nhà ngôn ngữ học André-Georges Haudricourt, vào những năm 1950, tiếng Việt thời kỳ đầu vốn là ngôn ngữ không có thanh điệu. Sau nhiều thế kỷ tiếp xúc với các ngôn ngữ có thanh điệu ở Đông Nam Á như tiếng Hán và các ngôn ngữ thuộc nhóm Tai-Kadai, hệ thống thanh điệu dần hình thành. Khoảng thế kỷ sáu, tiếng Việt bắt đầu xuất hiện ba thanh điệu đầu tiên. Đến khoảng thế kỷ 12, hệ thống này phát triển thành sáu thanh như chúng ta sử dụng ngày nay. Có thể nói sáu dấu thanh không phải là thứ xuất hiện ngay từ đầu mà là kết quả của hàng trăm năm biến đổi ngôn ngữ. Một sự kiện có ảnh hưởng rất lớn đến lịch sử tiếng Việt là thời kỳ bắt thuộc. Trong hơn 1000 năm, nhiều vùng đất của Việt Nam nằm dưới sự cai trị của các thời đại phong kiến Trung Hoa. Khi đó, chữ Hán được sử dụng trong bộ máy hành chính, giáo dục và thi cử. Nếu muốn làm quan hoặc trở thành học giả, người Việt phải học chữ Hán. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là người dân bình thường vẫn tiếp tục nói tiếng Việt trong cuộc sống hằng ngày. Ở nhà họ nói tiếng Việt với cha mẹ, con cái và hàng xóm. Ngoài chợ họ mặc cả bằng tiếng Việt. Trong những bài hát dân gian, những câu ca giao hay những câu kể bên bếp lửa, tiếng Việt vẫn truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Điều này giúp tiếng Việt tồn tại trong suốt hơn 100 năm, 1000 năm mặc dù chữ viết chính thức lúc đó là chữ Hán. Tất nhiên quá trình tiếp xúc lâu dài cũng để lại dấu ấn rất lớn. Tiếng Việt bắt đầu tiếp nhận hàng nghìn từ gốc Hán. Ngày nay nếu để ý bạn sẽ thấy rất nhiều từ trong tiếng Việt đều có nguồn gốc Hán Việt. Ví dụ như Độc lập, tự do, hòa bình, văn hóa, lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, quốc gia hay dân tộc. Trong khi đó, những từ dùng hàng ngày như ăn, uống, cha mẹ, ông, bà, nhà, cửa, cây, núi, sông, mưa, gió lại chủ yếu là từ thuần Việt. Sự tồn tại song song của hai lớp từ này tạo nên một nét rất đặc biệt trong tiếng Việt hiện đại. Ví dụ, chúng ta có thể nói bắt đầu hoặc khởi đầu, giúp hoặc hỗ trợ, hỏi hoặc truy vấn, nghĩ hoặc suy ngẫm. Hai từ có nghĩa gần giống nhau nhưng sắc thái và hoàn cảnh sử dụng lại khác nhau. Đây cũng là một trong những lý do khiến tiếng Việt được đánh giá là giàu sắc thái biểu đạt. Mặc dù sử dụng chữ Hán trong một thời gian rất dài, người Việt vẫn luôn mong muốn có một hệ thống chữa viết phản ánh được tiếng nói của dân tộc mình. Từ yêu cầu đó, chữ Nôm ra đời. Điều thú vị là chữ Nôm không phải là một hệ thống hoàn toàn mới. Người Việt trên các nét và cấu tạo của chữ Hán để sáng lập thêm những ký tự mới nhằm ghi âm tiếng Việt. Điều thú vị là chữ nôm không phải là một hệ thống hoàn toàn mới. Người Việt trên các nét và nguyên tắc cấu tạo của chữ Hán để sáng lập thêm những ký tự mới nhằm ghi âm tiếng Việt. có thể hình dung chữ nôm giống như việc dùng những viên gạch của chữ Hán để xây nên một ngôi nhà hoàn toàn mới. Nhờ chữ Nôm, nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng của Việt Nam được sáng tác bằng chính tiếng nói của người Việt thay vì sử dụng văn ngôn Hán. Tác phẩm nổi tiếng nhất có lẽ là Truyện Kiều của Nguyễn Du, ngoài ra còn có thờ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trải và rất nhiều tác phẩm khác góp phần tạo nên nền văn học dần dần phong phú. Tuy nhiên, chữ Nôm khá phức tạp, muốn đọc và viết thành thạo, người học thường phải biết cả chữ Hán. Điều này khiến việc phổ cặp chữ viết đến toàn dân gặp rất nhiều khó khăn. Chính vì vậy khi chữ quốc ngữ xuất hiện vào thế kỷ 17, nó dò được phổ biến vào cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Nó đã dần tạo nên một bức ngoặc lớn trong lịch sử tiếng Việt. Qua video ngày hôm nay, bạn đã biết được nguồn gốc và lịch sử của tiếng Việt xuất hiện như thế nào chưa? Hãy comment bên dưới cho Ngọc và mọi người cùng biết nha. Và nhớ theo dõi Lary để tiếp tục theo dõi series lịch sử của những ngôn ngữ trên toàn thế giới cũng như những series thú vị khác của Langiri. Và bây giờ chào tạm biệt và hẹn gặp lại.

Related videos

Not sure what to watch first? A first-week path with overlapping videos.